THÔNG BÁO

       

Choa nam 2019.jpg

  Năm 2018 đã qua đi, năm 2019 đã tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta trong năm qua. theo thời gian lùi dần về quá khứ

    Đảng ta, nhân dân ta  tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Thủ đô ngày càng có nhiều nét khởi sắc hơn.  

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam.


MỘT THOÁNG THÔI CẢ ĐỜI LƯU LUYẾN
21-05-2019
 Bìa Xuan Huong.jpgXin được giới thiệu

Lần đầu tiên tôi được tiếp cận với một văn bản thơ, tập “MỘT THOÁNG XUÂN

HƯƠNG” từ những văn nhân đến từ một miền đất văn hóa có bề dày ngàn năm văn  hiến, một trong những cái nôi êm ả của những ngọt ngào hừ la la rằng anh Hai, chị Ba quan họ. Nói là “lần đầu tiên” nhưng tôi cũng được đọc đây đó một vài tác giả. Nhưng đây là tập thơ chung mà tôi được đọc để có thể phác họa dung mạo một CLB thơ mà tôi đã từng nghe danh thơm từ một vùng đất cổ tích. Miền đất dày đặc những di chỉ, di  tích và đầy ắp những thi ca ẩn giấu sau lũy tre làng cổ kính ngàn năm. Khi còn đi học trường làng, tôi chỉ biết câu ca khái quát về tài danh – sắc tính của miền  quê 49 làng quan họ cổ bao gồm cả đất Bắc Ninh và Bắc Giang bây giờ: “Trai Cầu Vồng – Yên Thế/ Gái Nội Duệ - Cầu Lim”. Những ngày tôi còn bé lắm, cô tôi vẫn hát  “Yêu nhau cởi áo í à cho nhau…” , “Ra ngõ ấy mấy trong ra ngõ mà trông…” trong mơ màng giấc ngủ thuở hoa niên. Chính những ẩn sâu tình yêu mơ hồ nơi quan họ đó  đã khiến tôi đọc liền một mạch tập thơ “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG”.

Tôi thật bất ngờ khi đọc bài thơ mở đầu của chủ súy Đinh Mỹ Hạnh. Tuy nghiêm ngắn,  mực thước Đường thi nhưng những ‘ngõ Hạnh”, “vườn Đào” làm ta như đang lạc lối về miền ca dao và lãng du về miền quê dân gian, thôn ổ kỳ thú.

Có thể gọi “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG” là một “Tuyển tập” tập hợp hàng trăm  tác phẩm, tác giả của làng thơ Đường. Phần chủ nhà chỉ có 38 tác giả, bao gồm 76 tác phẩm treo lên nhành xuân của “vườn Đào, ngõ Hạnh” chốn quê Tân Yên; 13 tác phẩm  của 6 tác giả đến từ các huyện khác của Bắc Giang (Lạng Giang, Hiệp Hòa, Lục Nam). 33 tác giả thuộc Chi hội thơ Đường Bắc Ninh với 86 tác phẩm; Các tác giả đến từ Chi hội thơ Đường Hà Nội là 18 với 48 bài thơ; Chi hội thơ Đường Hạ Long – Quảng Ninh có 11 tác giả với 38 bài thơ, trong đó có tới 12 bài họa các tác giả “chủ nhà” Tân Yên; 5 tác giả đến từ Chi hội thơ Đường Hải Phòng với 17 tác phầm; 11 tác giả của Chi hội thơ Đường Thái Nguyên với 26 bài thơ; Các chi hội thơ Đường khác (Nam Định, Hòa Bình, Phú Thọ , Hà Tĩnh, Vũng Tàu, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa) với 12 tác giả, góp mặt với 27 tác phẩm. Như vậy cả “chủ” và “khách”, tập thơ “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG” đúng là một “tuyển tập” với 331 bài thơ của 96 tác giả thơ Đường hầu hết là ở các tỉnh thành phía Bắc, đơm hoa, góp hương vào “vườn Đào, ngõ Hạnh” của xứ quan họ Tân Yên Bắc Giang phong cảnh hữu tình, hiếu khách, mến mộ thi nhân.

  Như tôi đã nói ở trên, miền quê Tân Yên nằm trong một vùng di chỉ và trải dài theo thời gian và bề dày của lịch sử dân tộc. Tân Yên cũng là vùng đất nằm trong sự  giao  thoa văn hóa giữa các vùng miền nhưng Tân Yên vẫn giữ được những căn cốt riêng  của văn hóa một miền quê bán sơn địa trung du, vừa có nét khoáng đạt của rừng núi  hoang sơ, vừa có nét cổ kính, nền nã, chuẩn mực, ấm áp của làng quê dân dã, thôn ổ  Bắc Bộ truyền thống xưa nay. Tuy trải qua ngàn năm Bắc thuộc và âm mưu nô dịch,  đồng hóa văn hóa nhưng sự trường tồn bền bỉ của văn hóa Việt cổ, văn hóa đậm chất  Giao chỉ vẫn sừng sững như một tượng đài. Cái  căn cốt ấy đã làm nên chủ đề xuyên suốt của tập thơ “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG”, vẽ lên dung mạo của một tác  phẩm trữ tình, lấp lánh trí tuệ của một phong thái thơ nữ sĩ họ Hồ Quỳnh Lưu xứ  Nghệ xưa. Dí dỏm, hài hước mà không dung tục dễ dãi. Cười cợt, đùa vui mà nghiêm  ngắn, không quá đà sa vào sự dễ dãi để biến thơ trở thành…tiếu lâm.

   Bài thơ “BẮT CUA” của tác giả Đinh Thị Mai Hòa (Chi hội Thơ Đường Tân Yên) là  một bài thơ mang đầy đủ đặc trưng, sắc thái cho nhận xét đó của tôi:

              BẮT CUA

 

Vạch cỏ xem hang gắng thọc vào

Lom khom chân xoạc khổ làm sao

Chổng mông quỳ gối tay nâng móc

Ưỡn ngực cong lưng nước cuộn trào

Đôn đáo ngược xuôi lòng bổi hổi 

Mầy mò ngang dọc nắng lao xao

Đồng sâu ruộng cạn còn ham tới

Khổ mấy giời cho vẫn cố đào.

Lâu nay, đã nói đến thơ Đường thì chúng ta đều có sự e dè, kiêng nể và soi nhìn qua  lăng kính mô phạm. Chúng ta hay khoác cho nó một chiếc y thi đạo mạo để gò thơ vào  những khuôn phép cứng nhắc, đôi khi ngô nghê, vô hồn. vô cảm. Cuộc sống có nhiều  đường đi. Văn hóa muôn màu chảy từ muôn nguồn lạch. Việc Chi hội thơ Đường Tân  Yên khơi nguồn tứ thơ của nữ sĩ họ Hồ là một hướng sáng tác bình thường nhằm khơi  dậy niềm vui sống chứ không dung tục hóa những bài thơ phần nhiều còn “huyền  thoại” mà dân gian “gán” cho bà chúa thơ Nôm này. Âu cũng là một phút nghỉ ngơi trong lúc dở dang sá cày đồng ban trưa của những nhà nông quê mùa ham chữ nghĩa  mà thôi. Trong văn hóa dân gian, có khá nhiều làng cổ mà cả làng nói phét như làng

  Văn Lang (Tam Nông – Phú Thọ): “Văn Lang bắt được con lươn/ Thịt mang nướng  chả, còn xương đẽo cày”. Làng Dương Sơn, xã  Liên Sơn, Tân Yên “nói phét gia  truyền”. Cụ Vũ Văn Lập (81 tuổi, trú tại thôn Chiềng, xã Liên Sơn) nổi tiếng với  những câu chuyện “nói khoác” kiểu như:

Ổ ong một ngày thu được vạn can
Ong no bụng quá xếp hàng đùa nhau
Mật vàng như thể vàng thau
Mời nhau một giọt, mười năm sau vẫn thèm
”.

Rồi những tượng phồn thực của văn hóa Chăm Pa, nhà mồ Tây Nguyên cũng là dạng thức Hồ Xuân Hương trong nghệ thuật mang đậm chất phồn sinh của giống đực, giống cái. Đây đó có những nhà thơ dè bỉu, kiêng cữ với những văn hóa nguồn cội đó. Khi nói về dòng thơ này họ xỉ vả nào là tục tĩu, nào là khơi gợi nhục cảm, dục vọng thấp  hèn, v…v và v…v. Văn hóa dân gian và dòng thơ họ Hồ nữ sĩ đâu có là tội đồ để  những ai đó tự cho mình là cao đạo xa lánh, bĩu cợt! Tất cả những thâm thúy, trang nghiêm đến cợt nhả, bông phèng của những nhà nho ẩn  danh đến những câu chuyện tiếu lâm nơi thôn trang không bao giờ hết được. Nó như  những lạch nguồn chảy róc rách làm nên một nền văn hóa truyền miệng ngàn đời. Nền văn hóa ấy không bao giờ mất đi, nó sản sinh từ đời sống lao động vất vả trong nền  văn minh lúa nước làng quê Việt. Cho dù được “gán” cho Hồ Xuân Hương, Trạng Quỳnh hay một nhân vật huyền thoại nào nữa thì những câu thơ, bài thơ mang tính  “trường phái” đó cũng có phần sáng tạo thông minh, trí tuệ của nhân gian.

     Bài thơ “HẠN’ của tác giả Đỗ Hoàn (Chi hội Thơ Đường Tân Yên)  với những từ ngữ  dân dã, hợp với lối nói làng quê là một bài thơ mang đậm chất thôn quê mộc mạc mà hóm hỉnh, dí dỏm.

               HẠN

 

Trời đâu chẳng thấy nước ông tè?

Hạn hán trên đồng đất toác khe

Ếch nhái chui hầm mồm chả hé

Tôm cua rúc hố lưỡi không thè

Bụi dơ mấy cậu mê lùng ghẹ

Nắng hoải bao chàng mải bắt ve

Nóng bức ươn người môi bập bẹ

Hôm nay nước đẫy chảy tràn phè.

Những bài thơ Đường nương theo khẩu khí nữ sĩ họ Hồ của các tác giả “chủ nhà” ở  đây rất đa dạng và không theo chủ đề nhất định. Có tác giả nghiêm ngắn ở thế sự. Có tác giả nỗi lòng chan chứa về niềm riêng, nhưng nhìn chung đều viết theo lối “thơ tục  nghĩa thanh”, cố gắng theo thi pháp họ Hồ. Mà những tác giả viết theo lối “tục mà thanh” này hầu hết là các tác giả nữ. Các tác giả Đỗ Thị Hoa và Nguyễn Thị Thanh  Hoan

(Chi hội Thơ Đường Tân Yên) là những ví dụ:

.

           CANH CUA

Vén cỏ tình cờ trơ miệng lỗ

Moi bùn bất chợt hở đầu hang

Thò tay mò thử va vào yếm

Dạng cẳng sờ coi đụng phải càng

            …

                                                         (Đỗ Thị Hoa)

 

          CHUYỆN LÍNH PHÁO

        ...

Điều hướng vân vê tìm góc bắn

Chỉnh tầm dồn dập nã tầng trong

Đối phương rên rỉ qua làn đạn

Bụi khói mịt mờ dưới sức công

Trận chiến xong rồi vui hể hả

Cựu binh lính pháo sướng rên lòng.

                           (Nguyễn Thị Thanh Hoan)

Những tác giả mang nặng nỗi niềm man mác trong tập thơ không phải là ít. Vốn dĩ thơ  Đường là phương thức chuyển tải phù hợp với những tâm sự thâm sâu, kín đáo mà  những thể thơ khác khó thể hiện được. Đó là sự trở lại của những tâm hồn thơ giàu trăn  trở nỗi riêng trong dòng đời thế sự hỗn mang.

 Bài thơ ‘ĐÁNH CỜ NGƯỜI” mà dân gian bấy lâu vẫn cho là của nữ sĩ Hồ Xuân

Hương tưởng cũng dí dỏm đến thế này qua bài thơ ‘VUI CỜ” của bác Lương Yên (Chi hội Thơ Đường Tân Yên)

         VUI CỜ  

 

Bàn cờ sẵn ngả, trận bày xong

Đã quá quen nhau, thuộc nước phòng

Sỹ gểnh mã quỳ xe trực phóng

Tốt ngênh tượng vén pháo cương nòng

Thình lình chiếu tướng cong xe chống

Bất chợt xuyên cung rạng sĩ gồng

Cấp tập ngựa phi dồn chỗ hổng

Thắng thua thoải mái phải không ông?

Có những bài thơ khiến người nghe nao lòng, thẫn thờ như nhận được bức thư tình thời xuân sắc. Đọc “NHỚ NGƯỜI VIỄN XỨ” của Giáp Quang Vành (CLB Thơ Đường Tân Yên), không hiểu vì sao tôi cứ liên tưởng đến Trần Tế Xương khi “Nhớ bạn phương trời”:

               NHỚ NGƯỜI VIỄN XỨ

 

Chẳng biết từ đâu góc cuối trời

Người trong giây phút nhớ đầy vơi

Vần thơ giao cảm chưa tròn ý

Túi kén phù sinh đã đắng lời

Dẫu biết bến tình trăng ngọc khuất

Thương thầm chiếc phận lá xuân rơi

Nhớ người viễn xứ tình lai láng

                                      Một mảnh tâm tư hai mảnh đời

Âu đó cũng là cái tình sâu thẳm, ý nhị, kín đáo mà nồng thắm, xa xôi, bóng gió mà gần  gũi, nhớ nhung khôn nguôi trong văn hóa người quan họ truyền thống xưa rày.

Tập thơ “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG” thật là vườn Hương dậu Sắc, muôn hoa  đua thắm. Các bạn thơ của Tân Yên góp vào hương sắc ấy bao nồng nàn tình ý. Vẫn  thấp thoáng bóng dáng nữ sĩ họ Hồ nhưng phong vị thơ lại mang hơi thở hiện đại.  Những ai đã đi qua chiến tranh mà không trải qua bao hiểm nguy, gian khó. Ấy vậy mà  tác giả Nguyễn Đức (hi hội thơ Đường Từ sơn) trên đường hành quân ra trận thành sự  tếu táo, lạc quan trước đạn bom quân giặc qua bài thơ “CUỘC HÀNH QUÂN”:

Vượt suối qua khe lại nhớ đèo

Đường đi cỏ mọc lá quăn queo

Hành quân gối mỏi còn ham muốn

Vượt dốc chồn chân vẫn gắng trèo

Hơi thở phì phò khi dốc sức

Mắt đờ bủn rủn lúc trườn leo

Bên mình súng đạn luôn gìn giữ

Thỏa chí tang bồng phải cố đeo.

Tác giả Trần Thị Hải lại dí dỏm trong “CỦA ĐỂ DÀNH”   

Cha mẹ cho em của để dành

Bốn mùa hoa trái vẫn tươi xanh

Gò cao chăm sóc cây ưa hạn

Ao dưới khoanh vùng giống tốt nhanh.

 

Đọc thơ của bác Văn Cường ở CLB Đông Đô – Hà Nội, tôi cứ nghĩ rằng, đây là giọng thơ bỡn cợt của một cậu trai nào đó chừng mới đôi mươi thôi:

CHỐNG HẠN

 

Tay ghì ngực ưỡn lại xoay mông

Tát nước đêm hè khó nhọc không?

Vục xả trăng vàng co gối hạc

Trào tuôn suối bạc dướn lưng còng

Lần mò dưới vũng banh gầu méo

Kéo đẩy trên bờ vít cán cong

Múc đủ hai canh người thấm mệt

Nhìn cây lúa vẫy thỏa thê lòng.

Bác Nguyễn Xuân Ngọc – Hà Nội thì lại có lối chơi chữ, lái chữ tinh tế mà nghịch  ngợm, ngỡ thanh nhã mà tục ngầm giống các ông đồ xứ Nghệ kiểu một gã trai đang…tán gái qua bài thơ “QUÊN KÍNH”:

Đến chơi nhà bạn kính không đeo

Mắt kém xe nghiêng ngã lộn vèo

Ngắm núi Phượng hoàng công nó ngủ

Qua hồ Cổ mật trống ai reo

Mai dù góc bãi đang khoe sức

Mít ngọn đầu nương vẫn tóp teo

Khéo đứng tạo tu thành chính quả

Tốn lời khuyên bác chớ ham leo.

Nhà thơ đến từ vùng mây nước huyền thoại Hạ Long Đỗ Đăng Hành mà tôi từng sống  cạnh ông hiền thì thật ư hiền, cái hiền có thể để cho ối phụ nữ tin cậy, cảm mến.

     Nhưng mấy ai biết ông lão ngót thập bát có mái tóc bạc phơ ấy vốn là chàng lính đặc  công vào sinh ra tử, một đại úy tiểu đoàn trưởng cầm quân khiến kẻ địch ở chiến trường Quảng Trị những năm khói lửa phải táng đảm kinh hồn. Nhưng sự đời những “lão” càng hiền lại càng hóm. Cái hiền ấy tỷ lệ thuận với cái hóm “gớm thịt”. Cái hóm  ấy khiến “đối thủ” chỉ còn biết “chịu trận” cười trừ. Nói vụng chứ, các “bà lão” cả ghen có khi chẳng dám “thả” “cụ nhà” đi ra chỗ đông phụ nữ:

              SỞ THÍCH

(Họa “Tám mươi” thơ Hoàng Thuyết Hạ Long)

 

Vẫn là sở thích cái mào xanh

Tám chục mùa xuân thắm nụ cành

Khéo trách cháu ngoan quên gọi chú

Dẻo đùa em bé dám kêu anh

Khi say khi tỉnh khi vàng mắt

Lúc tỏ lúc mờ lúc trắng canh

Yêu vợ quý con đành tí chút

Chút mây chút gió chút mong manh

Nói đến lề lối xướng họa thơ Đường là nói đến sự “so gươm đọ súng”. Có cuộc ngang  tài, ngang sức, có cuộc người xướng kẻ họa nhinh nhỉnh hơn nhau chút đỉnh. Âu cũng  là sự thăng hoa, tung hứng của chữ nghĩa mà ai cũng vui lòng hể hả, đẹp cả anh với  nàng. Nhà thơ Đinh Thị Hạnh trong “TÂN YÊN ĐÓN BẠN” mới thủ thỉ mời rằng:

               Hãy về Cao Thượng thả thơ chơi

               Một thoáng Xuân Hương rủ rỉ cười

               Phơi phới bóng hồng hong gió thoảng

               Nuột nà dáng liễu dậy men khơi

mà chàng Đàm Thanh Vương ở tận Hạ Long đã nổi sóng cồn:

Đồ rằng Kinh Bắc đất sành chơi

Cùng khách đùa vui khúc khích cười

Một mảnh trăng ngà sau dải lụa 

Hai gò đảo nhỏ giữa dòng khơi

   Lão còn “cả gan”: “Vít mây đãi gió quên lời vợ”.

Bài xướng lay tình gợi tứ, bài họa động cảnh khơi nguồn thì thật đáng danh “Gái Bắc, trai Đông”. Bài  thơ “VỀ KINH BẮC “của tác giả Đàm Thanh Vương họa thơ nữ sĩ

    Đinh Thị Mỹ Hạnh bài “TÂN YÊN ĐÓN BẠN”:

Đồ rằng Kinh Bắc đất sành chơi

Cùng khách đùa vui khúc khích cười

Một mảnh trăng ngà sau dải lụa 

Hai gò đảo nhỏ giữa dòng khơi

Vít mây đãi gió quên lời vợ

Rẽ nước khai sông mặc sự đời

Đỏng đảnh mưa nhiều nên nắng lắm

Gió giông thây mặc bạn tình ơi!

 

Cùng đó, bài họa của tác giả Ngô Thị Ngọc Oanh – Bắc Ninh để lại cặp thực dí dỏm, ấn tượng:

 

Mực còn chưa cạn còn ham viết  

Giấy chửa nhàu quăn chửa chán đời

 

hay của bác Phạm Cao Đàm – Hải Phòng đâu kém phần bóng bẩy, tếu vui:

 

Thấp thoáng ba bờ phô suối ngọc

Nhấp nhô hai đỉnh hé non bồng

 

Chỉ tiếc mảng thơ thế sự chỉ thấp thoáng đâu đó trong tập thơ như “NẶN TÒ HE” của bác Phạm Hữu Trung – Hải Phòng:

        NẶN TÒ HE                                   

 

Nhìn xem lũ trẻ nặn tò he

Tím đỏ vàng xanh, một dãy hè

Gái mõ, vua quan chằng chịt bột

Lợn gà, ngan ngỗng lắc lư que

Vênh vang mẹ Đốp như bà tướng

Ngạo nghễ thượng thư tựa chú hề

Thứ bậc nhỏ to đều nặn tuốt

“Điếc nào sợ súng” nói chi nghe.

hay “THỢ HỚT TÓC”  của bác Phạm Hữu Xuân – Hạ Long:

Càn khôn thiên hạ dưới đôi tay

Phấp phới lọng hoa nhất khoảnh này

Cạo gáy xá gì quan chức bự

Đè đầu nào ngán cước quyền hay

Vung thanh bảo kiếm muôn râu rụng

Giũ tấm long bào triệu tóc bay

Gương ngọc ngời ngời soi vạn đại

Ngai vàng lựa thế khéo vần xoay.

Hai bài thơ cuối cùng tôi vừa trình bày như một lời cảm ơn các tác giả đáng kính về bài giới thiệu tập thơ “MỘT THOÁNG XUÂN HƯƠNG” của tôi.

Tân Yên 20/5/2019

   NGUYỄN ĐÌNH THÁI

                                 Hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Ninh

                                              Điện thoại: 0782170358

                                              Email: thaiquangninh@gmail.com

Tác giả BBT