THÔNG BÁO

       

Choa nam 2019.jpg

  Năm 2018 đã qua đi, năm 2019 đã tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta trong năm qua. theo thời gian lùi dần về quá khứ

    Đảng ta, nhân dân ta  tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Thủ đô ngày càng có nhiều nét khởi sắc hơn.  

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam.


Trải lòng với tập thơ “ Quê Mẹ “ của Nguyễn Duy Hùng
02-04-2013
Bìa Que Me.F.2.jpg Nguyễn Duy Hùng sinh năm 1949  hiện đang sinh sống tại Cầu Đơ Quận Hà Đông. Ông tham gia nhiều năm với phong trào thơ Đường. Mới năm gần đây sức khỏe của ông giảm sút nhưng chưa khi nào vắng mặt tại các buổi giao lưu thơ .Nhiều năm qua ông cũng là những hạt nhân cầm cờ cho phong trào thơ của Tỉnh Hà Tây cũ và Hà Nội hôn nay. Vừa qua được bạn thơ trợ giúp Ông đã cho ra mắt tập thơ " Quê mẹ" dày trên 100 trang với gần 200 bài thơ . Thơ ông nặng tình quê hương và , nhất là Người Mẹ và có thể ... Xin trân trọng giới thiệu lời cảm nhận của Nguyễn Văn Thụ Chủ nhiêm CLB thơ Đường Hà Nội . PCT Hội thơ Đường luật Việt Nam về tập thơ của ông .

   Tôi và Kim Tuyên cùng là bạn của anh Nguyễn Duy Hùng. Tôi chơi với anh từ năm 2004, có lẽ Kim Tuyên còn sớm hơn.

Ngay từ những năm sau ấy, tôi thấy thơ anh hay nên có hỏi với anh:

- Sao không xuất bản?

- Anh đáp:

- “Mình nghĩ đ­ợc bài nào thì chép vào những tờ giấy rời, bây giờ bị thất lạc, khó tập hợp lắm”.

Mùa hè năm 2012 anh mắc bệnh phải vào điều trị tại bệnh viện 108. Tôi đến thăm anh, ngạc nhiên hỏi:

- Anh bị bệnh gì mà sút đi nhiều thế?

  Anh thản nhiên: - Ung th­! Sắp đi rồi!

Tôi động viên anh: - Anh thản nhiên và lạc quan thế này, là không sao đâu!

Về đến nhà, tôi điện cho anh: “Anh có nhớ đ­ợc bài nào không, chép ra đi, hay đọc cho cháu nó chép cho. Đừng để rơi vãi, phí lắm, ng­ời ngoài không đọc thì vợ đọc, con đọc, cháu đọc, bạn bè đọc… Đọc để thấy đ­ợc nhau”.

Tôi chờ lâu lâu, không thấy anh gửi cho những bài thơ ấy, rồi tôi lại mắc nhiều việc không tên, nên có nhãng đi.

Bỗng một hôm, Kim Tuyên điện cho tôi: Em đã “Mail” cho anh tập thơ của anh Hùng rồi đấy, anh đọc lại đi để đ­a cho nhà xuất bản, càng sớm, càng tốt, đừng chậm nhé! Kim Tuyên nói thật nhanh, nói thật đanh ba chữ cuối…

 

Anh Hùng viết về mẹ thật là tri ân, sâu nặng:

úng, khê, no... đói thời thơ ấu

Giặc giã ngậm ngùithuở lớn khôn

Hai câu này đã làm rõ ra sự từng trải, gian chuân của ng­ời mẹ. Rồi đến hai câu luận, phép l­u thuỷ đối còn làm ta xúc động tr­ớc sự cao cả hy sinh của ng­ời Mẹ.

Tần tảo nuôi con lo sớm tối

Để rồi dứt ruột tiễn chân con

Ng­ời mẹ anh in hệt bà mẹ Việt Nam, in hệt bà mẹ Tổ quốc Việt Nam.

Yêu th­ơng Mẹ, anh lại càng yêu th­ơng, nhung nhớ đến quê mẹ.

Con đ­ờng lát gạch rộng thênh thang

Hai dãy ô rô xén thẳng hàng

(…) Một bên ao nối thành con suối

Một phía v­ờn chen dựng đại ngàn(...)

Mỗi độ xuân sang hoa b­ởi nở

Con về quê mẹ, dịu mênh mang

Thơ viết về mẹ, về quê mẹ, anh Hùng không m­ợn ý, không m­ợn từ, không m­ợn tứ của thơ Đoàn Văn Cừ, nh­ng khi đọc lên, đọc thật chậm, tôi vẫn thấy thơ anh tiết ra vị ngọt ngào, ấm áp không khác Đoàn Văn Cừ.

Vợ anh quê ở làng Th­ợng Lâm, huyện Mỹ Đức (thuộc Hà Đông x­a, nay là Hà Nội), nơi ấy là vùng đất bán sơn địa, có hồ rộng nh­ g­ơng, có sông dài nh­ lụa, có núi dựng nh­ thành, có đồi chè nh­ gấm, đẹp cảnh, đẹp tình.

 

 

Và đây là hình ảnh vợ anh thuở ban đầu thể hiện trong bài thơ: “Thôn nữ qua đồi”.

Lá ­ớp hơi thu chín óng vàng

Nắng bồng thôn nữ đẹp nguyên hoang

Mắt ai xao nhẹ hồn trong trẻo

Dạ khách chao nghiêng phút ngỡ ngàng

Ghen với gió ngàn hôn tóc sóng

Muốn là cung cấm đón ng­ời sang ()

Và đây nữa, từ buổi đang “yêu”

Nếp quýt ruộng em chín óng vàng

Mang liềm cắt trấu lội bờ sang

ấm câu anh hỏi từng cô bác

Đỏ má em th­a với xóm làng

Quên mệt, bởi tình yêu thắm thiết

Thêm nồng trong sóng lúa mênh mang

Bạn qua ríu rít khen anh tốt

Cho thoáng lòng em thấy xốn xang.

 

Viết về mẹ, thơ anh Hùng chân chất, thành kính, tâm tình. Viết về vợ, viết về tình yêu, thơ anh Hùng phong nhã, hào hoa, đa cảm.

Vậy điều gì đã làm nên thơ anh.

Anh có sở tr­ờng đặt câu theo lối “Văn Tây”; đặt đảo thành phần ngữ pháp, nó có hiệu quả làm cho thể thơ Đ­ờng luật trẻ ra, hiện đại ra, ví nh­ trong bài: “Mất mùa ngâu”

D­ới trúc, xua nồng già phẩy quạt

Trong ao, tắm mát trẻ đùa nhau

Mong m­a mấy bác nghênh trời đất

Tát n­ớc dăm cô ngửa miệng gầu

 

Đọc mấy câu ấy, ta phảng phất thấy phong cách bà chúa thơ Nôm:

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt s­ơng gieo

ấy vậy là ta cũng lại thấy bà Hồ Xuân H­ơng đã hiện đại hoá thơ Đ­ờng luật từ tr­ớc chúng ta đến mấy thế kỷ rồi.

Rõ ràng anh Hùng đã biết tích hợp cái hay trong phép đặt câu của thời này và của thời x­a.

Thơ anh Hùng không thấy có cảnh huống éo le, cũng không có cảnh huống bi lụy nh­ng bù lại anh th­ờng lấy tứ thơ để làm cho thơ muốn đọc. Ví nh­ trong bài thơ “Lên chùa”.

Khách qua thuyền khách chao nghiêng ngửa     (3)

Tôi đốt lòng tôi để rối bời                                        (4)

Em vớt hồn ai tay khoả n­ớc                                    (5)

Hay đùa nhân thế ý trêu ng­ơi.                                (6)

Lại ví nh­ trong bài “Thoáng tình trên suối”

Mạn non tóc thả bay tà áo                                      (3)

Bến mắt tôi qua đắm mảnh hồn                            (4)

Nắng khoả tay ai hồng nét ngọc                            (5)

Miệng làm hoa suối thắm hoàng hôn                   (6)

Với hai ví dụ trên, ta không bàn về phép đối của thơ anh rất tự nhiên nh­ng lại rất nghiêm chỉnh mà chỉ xin nói về tứ thơ thôi.

ở ví dụ tr­ớc tứ thơ của câu (3) gợi ra tứ thơ cho câu (4). Các hình ảnh gợi cảm “chao nghiêng ngửa” khiến cho ai đó đang độ xuân thì làm sao lại không bối rối, không bị đốt lòng.

 

ở ví dụ sau, cái tứ “bến mắt” ở câu (4) với cái tứ “miệng làm hoa suối” thật là vi diệu.

Thơ anh Hùng dễ làm cho ng­ời ta say, do còn ở cách dùng từ nh­ trong bài “Đ­ờng chiều” có câu:

Nón thả vai mềm say nắng ngủ

H­ơng tuôn tóc suối ngập chiều vơi

Vâng, thế nào là “Nắng ngủ” thế nào là “Chiều vơi” chắc rằng “Nắng ngủ” là định nói, nắng đã dịu dần đi, nắng đã tắt rồi và “Chiều vơi” là định nói, ngày sắp hết, chiều đã muộn, đã sắp hoàng hôn.  đó chính là phép biến hoá từ, phép ấy có thể biến một từ đã quen thành một từ rất mới.

Viết đến đây, tôi xin nh­ờng quyền khám phá cái hay về cách lập tứ, dùng từ trong thơ của anh Hùng cho bạn đọc …

Thơ chép trên gi­ờng bệnh chủ yếu là thể thơ Đ­ờng luật. Nh­ng tập thơ này lại thấy lạc vào vài bài thơ thất luật, không đối, không niêm.

Có lẽ là bởi mạch thơ của anh “chảy” nhanh quá, là bởi ý chí chiến thắng bệnh tật của anh mãnh liệt quá. Nghĩ nh­ vậy nên tôi và Kim Tuyên bảo nhau cứ giữ nguyên không sửa, để làm l­u niệm những giây phút xuất thần của thơ anh. Tôi, Kim Tuyên và các bạn của anh cảm phục anh lắm, anh Hùng ơi!

 

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2013

                                                                                                            Nguyễn Văn Thụ

Say đây là một số bài thơ trích trong tập " Quê Mẹ"
do BBT giới thiệu :

MẸ GỘI ĐẦU

              Kính dâng hương hồn mẹ.

 

Rơi nhẹ lá vàng báo tiết đông

Nắng nghiêng bóng mẹ gội bên song

Vẫn hương bồ kếp thời thơ ấu

Vẫn lá hương nhu thủa yếm hồng

Bắc ghế phơi mây dài quá gót

Buông tơ hong gió ngát qua đồng

Mênh mang thương mẹ con quanh quẩn

Tóc quyện má con dịu ấm nồng.

 

                                Hồi ức thu 1952

 

MẸ TÔI

 

Mẹ cũng như bao bà mẹ Việt

Võng ru từng buổi cuộc vuông tròn

Úng khê no đói thời thơ ấu

Giặc giã ngậm ngùi thuở lớn khôn

Tần tảo nuôi con lo sớm tối

Để rồi đứt ruột tiễn chân con

Thanh bình về với căn nhà lá

Gạt lệ vui buồn với nước non.

 

QUÊ MẸ

   Kính dâng hương hồn mẹ

 

Con đường lát gạch rộng thênh thang

Hai dãy ô rô xén thẳng hàng

Cổng phượng bao đời phơi nét cổ

Dân thôn mấy thủa giữ danh làng

Một bên ao nối thành con suối

Một phía vườn chen dựng đại ngàn

Mỗi độ xuân sang hoa bưởi nở

Con về quê mẹ dịu mênh mang.

 

                       Tây Mỗ - Xuân 1998

CHỢ QUÊ

 

Lều xiêu trên bến nước đầy vơi

Lộn xộn thúng quang í ới mời

Tiếng lợn éc mang người nhốt rọ

Bu gà te mặc nắng hun trời

Mồ hôi cũng chen nhau vào chợ

Nước vối rao mời khách khản hơi

Bán ế có cô ngồi ngáp vặt

Hỏi mua em mắt với môi cười.

                       

                           Chợ Ba Thá 1964

 

 

KHÚC THIÊN THAI

 

Thổi khúc Thiên Thai sáo mục đồng

Lan đồi cỏ mượt lướt mênh mông

Chèo khuya bến ngọc nao trời thẳm

Hạc vỗ non vang ảo cõi không

Phách giục xiêm bay dâng đào thắm

Sênh dồn rượu đổ ướp môi nồng

Nhớ trần gạt lệ chia ân ái

Trở lại lau reo lạnh cõi Bồng.

 

                           Đồi Trám - Tuy Lai 1968.

 

 

 

ĐƯỢC MÙA

 

Trên đồng tíu tít gái cùng trai

Nối gót về thôn kĩu kịt vai

Hồng lửa thổi cơm lo tối sớm

Sáng trăng đập lúa mặc đêm dài

Rơm cây rộn rã câu hò hội

Thóc cót ấm nồng chuyện mối mai

Nếp quýt đồ xôi em ửng má

Hương đồng xao xuyến áo duyên ai.

                                           Cầu Đơ - Hà Đông 1990.

 

 

ĐỈNH YÊN LỘNG GIÓ

 

Chêng vênh tạc thế hiểm

Chót vót dựng tầm cao

Đá thổi vang cung lộng

Cây rung xé lá gào

Chim ngang trời cuốn vút

Chuông lửng khói bay ào

Đỉnh gió mây hoành tráng

Lòng người say dạt dào.

 

                    Yên Tử 19/10/1999

 

NÚI TẢN

 

Đỉnh lẫn trời xanh biếc một màu

Vĩ hùng vươn thế đứng dài lâu

Thông reo tích cũ thần dâng núi

Mây quyện cung xưa đá dựng lầu

Đâu thủa sóng gào vang chiến địa

Chỉ còn gió hát lộng ngàn dâu

Non thiêng ru giấc Ngọc Hoa ngủ

Trong áng thoại huyền đẹp ngọc châu.

 

                          Sơn Tây- Năm 2005

 

 

 

SÔNG ĐÀ

 

Chớp rổ mưa tuôn đổ suối ào

Thác gầm trải lụa trắng non cao

Xô bờ cuồn cuộn tung dòng chảy

Vỗ đá âm vang dội sóng gào

Người dựng bản, cồng reo bến nước

Cát bồi nương, suối thắp trời cao

Vẽ tranh thủy mặc soi non Tản

Hát khúc hùng uy tự thủa nào.

 

                   Thủy điện Hòa Bình - 2004

 

THU MUÔN THỦA

 

Đường xưa xào xạo gót thu sang

Ươm nếp uốn câu cúc chín vàng

Đồng thổi gió buồn hương dĩ vãng

Tơ buông bến lạnh sóng lang thang

Gánh quê cô gái rao duyên cốm

Trống hội đèn hoa ngập xóm làng

Ngước mắt trong veo hồn thiếu nữ

Phập phồng câu hẹn bến đò ngang.

 

 

CHỢ PHIÊN TƠ LỤA LÀNG ĐƠ.

 

Chợ họp vui thôn ngát lúa đồng

Người về kén lụa đất Hà Đông

Gấm vào xứ Huế buông chiều tím

Vóc tới kinh đô thả khói hồng

Để bãi dâu nên tơ óng ánh

Cho vòng sa đuổi nhịp say nồng

Câu Quan họ lụa giao duyên thắm

Áo tứ thân tươi hội núi sông.

 

ĐỒNG QUÊ

 

Những mái tranh xưa ấm khói vương

Mênh mang đồng trải cảnh yêu thương

Cánh cò thấp thoáng vui thôn xóm

Mây trắng lang thang ấm nẻo đường

Lúa thở dạt dào trong biển nắng

Môi cười hiền dịu giữa quê hương

Ngàn năm vẫn giữ hồn dân Việt

Trăng gió không vương bụi phố phường.

                                                        Quân y viện 108 ngày 29/1/2013

 

 

GIÃ BẠN

 

Sao còn dùng dằng lúc chia phôi

Ngàn dặm rượu vui đã cạn rồi

Tiếng gọi xin đừng dâng ánh mắt

Tơ vò sao cứ rối lời môi

Người về nhặt nhớ ngày bên Huế

Tôi đứng trông theo bước cuối trời

Chắc nhỉ đêm nay đâu chỉ có

Dưới trăng ai uống nỗi đầy vơi.

 

 Nguyễn Duy Hùng – Hà Đông , Hà Nội

 

 

 


Tác giả